Trường hợp bị thu hồi giấy phép lao động

author
4Phúts, 53GiâysĐọc

Trường hợp bị thu hồi giấy phép lao động

Trường hợp bị thu hồi giấy phép lao động được quy định tại Nghị định 219/2025/NĐ-CP. Cụ thể:

  1. Giấy phép lao động hết hiệu lực theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 156 của Bộ luật Lao động.
  2. Người sử dụng lao động hoặc người lao động nước ngoài không thực hiện đúng quy định về cấp. Hoặc cấp lại, gia hạn giấy phép lao động.
  3. Người lao động nước ngoài trong quá trình làm việc ở Việt Nam không thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Khi bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trình tự thu hồi giấy phép lao động

  1. Đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 30 Nghị định này, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giấy phép lao động hết hiệu lực, người sử dụng lao động thu hồi giấy phép lao động. Mục đích là để nộp lại cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép lao động. Kèm theo văn bản báo cáo trường hợp thu hồi. Trường hợp không thu hồi được phải nêu rõ lý do.
  2. Đối với trường hợp quy định tại khoản 2 và 3 Điều 30 Nghị định này, cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép lao động ra quyết định thu hồi giấy phép lao động. Gửi thông báo cho người sử dụng lao động đề nghị nộp lại giấy phép lao động. Và gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) để biết, phối hợp quản lý.

Ngoài ra, nghị định 219/2025/NĐ-CP cũng quy định các trường hợp bị thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động:

– Làm việc không đúng với nội dung trong giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đã được cấp.

– Có văn bản thông báo của người sử dụng lao động tại nước ngoài về việc không tiếp tục làm việc tại Việt Nam.

– Người sử dụng lao động tại Việt Nam hoặc nước ngoài chấm dứt hoạt động.

– Người sử dụng lao động hoặc người lao động nước ngoài không thực hiện đúng quy định về cấp, cấp lại. Hoặc gia hạn giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động quy định tại Nghị định này.

– Người lao động nước ngoài trong quá trình làm việc ở Việt Nam không thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Khi bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trình tự thu hồi giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động

  1. Đối với trường hợp quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 32 Nghị định này, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động hết hiệu lực, người sử dụng lao động thu hồi giấy xác nhận. Mục đích là để nộp lại cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy xác nhận.Và kèm theo văn bản báo cáo trường hợp thu hồi. Trường hợp không thu hồi được phải nêu rõ lý do.
  2. Đối với trường hợp quy định tại khoản 4 và 5 Điều 32 Nghị định này, cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động ra quyết định thu hồi giấy xác nhận. Và gửi thông báo cho người sử dụng lao động nộp lại giấy xác nhận. Và gửi Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an) để biết, phối hợp quản lý.

Hãy gọi cho chúng tôi nếu bạn có nhu cầu tư vấn cụ thể: 1900.599.818.

Tác giả: Luật sư Bùi Hường

Liên hệ dịch vụ:

https://luattq.com

https://luatsu1088.vn/vi-tri-cong-viec-cua-nguoi-lao-dong-nuoc-ngoai-lam-viec-tai-viet-nam/

 

0/5 (0 Reviews)

Bài viết liên quan