Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

 

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phân thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong bài viết này chỉ đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và những điểm mới quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là BLDS).

I. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015)

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác, cụ thể:

– Phải có thiệt hại xảy ra.

+ Thiệt hại về vật chất bao gồm:

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 589 BLDS;

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 590 BLDS;

Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 591 BLDS;

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 592 BLDS.

+ Thiệt hại do tổn thất về tinh thần được hiểu là:

Thiệt hại do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (khoản 2 Điều 592 BLDS)

Hoặc do tính mạng bị xâm phạm (khoản 2 Điều 591 BLDS),

Hoặc do thi thể bị xâm phạm (khoản 3 Điều 606),

Hoặc do mồ mả bị xâm phạm (khoản 3 Điều 607).

Bộ luật dân sự

Phải có hành vi trái pháp luật. Bao gồm hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Hoặc xâm phạm hình ảnh, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

– Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đó là trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng. Hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.  Trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

II. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại (quy định tại Điều 585 BLDS 2015)

1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

Bộ luật dân sự

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

III. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (quy định tại điều 586 BLDS 2015)

1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.

2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình. Nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

Bộ luật dân sự

3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình.

IV. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại (quy định tại điều 588 BLDS 2015):

Là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Lưu ý: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc (khoản 2 Điều 149 BLDS 2015).

Bộ luật dân sự

Như vậy, khi có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì bên bị thiệt hại phải có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra. Và phù hợp với mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý, về thu nhập bị mất hoặc giảm sút. Ngoài ra BLDS 2015 quy định yếu tố lỗi (cố ý hoặc vô ý) không còn là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Hãy gọi cho chúng tôi để được tư vấn cụ thể: 1900.599.818.

Tác giả: Luật sư Đồng Hải Đăng

Liên hệ dịch vụ:

http://0903876125.xyz

https://luatsu1088.vn/hop-dong-thuong-mai/

 

0/5 (0 Reviews)
Phone icon
1900599818